Bún bò Huế bị nấu sai nhiều hơn bất cứ món nước nào khác, thường là vì người nấu bỏ mắm ruốc do sợ mùi. Nhưng chính mắm ruốc mới là thứ cho nước dùng chiều sâu, và không có nó thì tô bún chỉ là nước xương có sả.
Nước dùng
Xương ống bò và giò heo là nền. Giò heo cho gelatin làm nước dùng sánh nhẹ.
Chần xương qua nước sôi rồi đổ nước đầu đi. Bước bắt buộc cho nước dùng trong.
Ninh bốn tới sáu tiếng. Lửa nhỏ, vớt bọt liên tục lúc đầu.
Sả đập dập thả vào cả bó. Đây là gia vị chủ đạo, dùng rất nhiều so với các món khác.
Thả sả từ đầu và bổ sung thêm ở cuối. Sả thả cuối cho mùi tươi.
Thơm và hành tây cho vị ngọt. Thả cùng xương.
Mắm ruốc hoà nước rồi lọc bỏ cặn. Chỉ dùng phần nước trong, cặn làm nồi đục.
Cho mắm ruốc vào ở hai tiếng cuối. Sớm quá là mùi bay hết.
Nêm nước mắm, muối và chút đường. Bún bò Huế đậm hơn phở đáng kể.
Thêm ớt bột hoặc sa tế cho cay. Đặc trưng của món.
Nước dùng phải đậm và có hậu vị. Nhạt là hỏng cả tô.
Nếm nhiều lần trong quá trình. Điều chỉnh dần chứ đừng nêm một lần.
Nồi nước dùng cần ít nhất một bó sả lớn. Người mới nấu thường dùng ba bốn cây rồi thắc mắc vì sao không thơm như quán, câu trả lời chỉ đơn giản là thiếu sả.
Vai trò của mắm ruốc
Mắm ruốc cho chiều sâu mà không gia vị nào thay được. Đây là thành phần định nghĩa món.
Dùng lượng rất ít. Một tới hai thìa cho nồi ba lít.
Hoà với nước ấm rồi để lắng. Gạn lấy phần nước trong.
Lọc qua rây mịn. Bỏ hết cặn, nước dùng mới trong.
Xào thơm với sả trước khi cho vào nồi. Cách của người Huế, mùi dịu hơn hẳn.
Đun sôi kỹ sau khi cho vào. Mùi gắt bay đi, chỉ còn vị đậm.
Người mới nên bắt đầu với lượng ít. Rồi tăng dần qua các lần nấu.
Không bỏ hẳn mắm ruốc. Tô bún sẽ thiếu hẳn một tầng vị.
Chọn mắm ruốc Huế nếu mua được. Chất lượng khác nhau khá rõ giữa các vùng.
Bảo quản trong hũ kín ở ngăn mát. Mùi rất mạnh, bọc thêm túi bên ngoài.
Có bản chay từ nấm và tương. Không giống hệt nhưng dùng được.
Đây là chỗ phân biệt bún bò Huế thật với bản sao. Người Huế nhận ra ngay.
Mắm ruốc và mắm tôm là hai thứ khác nhau. Nhiều người thay nhầm rồi kết luận món dở, trong khi vấn đề chỉ là dùng sai nguyên liệu ngay từ đầu.
Dầu điều và sa tế
Dầu điều cho màu đỏ cam đặc trưng. Không phải phẩm màu, đây là màu tự nhiên từ hạt điều.
Đun hạt điều màu trong dầu ở lửa nhỏ. Tới khi dầu chuyển màu thì vớt hạt ra ngay.
Không đun quá lâu. Hạt cháy làm dầu đắng và màu xỉn.
Phi sả băm trong dầu điều. Hai thứ kết hợp tạo mùi đặc trưng.
Thêm ớt bột vào dầu nóng. Thành dầu ớt sả cho món.
Rưới lên mặt nồi nước dùng. Màu nổi lên rất đẹp.
Hoặc để riêng cho khách tự thêm. Ai ăn cay ít thì tự điều chỉnh.
Sa tế làm tăng độ cay và mùi. Thêm vào nồi hoặc để bàn.
Làm một mẻ dầu điều dùng nhiều lần. Để hũ kín trong ngăn mát được hai ba tuần.
Đừng dùng phẩm màu công nghiệp. Không cần thiết và không an toàn.
Màu đẹp làm tô bún hấp dẫn hẳn. Ăn bằng mắt trước.
Nhưng màu không thay được vị. Đừng dựa vào nó để che nước dùng nhạt.
Cắt hạt điều màu ra khỏi dầu đúng lúc. Dầu chuyển màu cam đậm là vớt ngay, thêm ba mươi giây nữa là màu ngả nâu và có vị đắng.
Thịt và topping
Bắp bò luộc trong nồi nước dùng. Vớt ra khi chín, để nguội rồi thái lát mỏng.
Giò heo chặt khoanh. Ninh cùng xương, mềm mà không nát.
Chả cua là topping đặc trưng. Cua giã lọc trộn với thịt và trứng, hấp hoặc thả trực tiếp vào nồi.
Chả lụa thái miếng. Thêm tuỳ khẩu vị.
Tiết luộc. Nhiều nơi có, tuỳ nếp.
Bún sợi to. Khác hẳn bún sợi nhỏ của bún riêu.
Trụng bún qua nước sôi trước khi chan. Bún nóng thì tô nóng lâu hơn.
Hành tây thái mỏng ngâm nước đá. Giòn và bớt hăng.
Hành lá và ngò cắt nhỏ. Rắc lên trên.
Rau ăn kèm là rau muống chẻ, bắp chuối, giá. Cùng rau răm và húng quế.
Chanh và ớt để riêng. Ai muốn thì tự thêm.
Mắm ruốc pha để bàn. Cho người muốn đậm hơn.
Chả cua tự làm khác hẳn chả mua sẵn. Cua đồng giã lọc lấy nước rồi đun cho gạch đóng thành mảng, đó mới là thứ nổi lên mặt tô bún Huế.
Sai lầm thường gặp
Bỏ mắm ruốc vì sợ mùi. Đây là lỗi lớn nhất, món mất hết bản sắc.
Dùng quá ít sả. Bún bò Huế cần rất nhiều sả so với món khác.
Nấu nước dùng quá nhạt. Món này vốn đậm, nhạt là hỏng.
Dùng bún sợi nhỏ. Sai loại bún là sai kết cấu cả tô.
Không chần xương trước khi ninh. Nước đục và có mùi.
Đun sôi bùng suốt quá trình ninh. Nguyên nhân đục số một.
Cho mắm ruốc từ đầu. Mùi bay hết và vị không còn.
Không lọc cặn mắm ruốc. Nồi đục và có sạn.
Dùng phẩm màu thay dầu điều. Màu giả và không có mùi.
Chan nước dùng chưa đủ sôi. Tô nguội nhanh và thịt tái không chín.
Thiếu rau ăn kèm. Rau là một phần của món chứ không phải trang trí.
Nấu theo công thức phở rồi thêm sả. Hai món hoàn toàn khác nhau về nền vị.
Nếm tô đã ráp chứ đừng chỉ nếm nồi. Bún và rau làm loãng vị, nồi vừa miệng thường có nghĩa là tô sẽ nhạt.